Chiều thứ Sáu 25/9, trong ngày đầu tiên của chuyến tông du tại Pháp, Đức Thánh Cha đến thăm trụ sở UNESCO tại Paris. Đây là chuyến viếng thăm đầu tiên của một Giáo hoàng tới UNESCO kể từ năm 1980. Trong diễn văn, Đức Thánh Cha đặt phẩm giá con người ở trung tâm của giáo dục, khoa học, văn hóa và công nghệ, đồng thời kêu gọi xây dựng hòa bình bằng công lý, sự thật, đối thoại và lòng tín nhiệm.
Vào lúc 15 giờ, Đức Thánh Cha rời Tòa Sứ thần bằng xe hơi để đến trụ sở Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hiệp Quốc (UNESCO), cách khoảng 4 km.
Được thành lập theo Công ước London ký ngày 16/11/1945 và có hiệu lực từ ngày 4/11/1946, UNESCO ra đời từ xác tín rằng các thỏa thuận chính trị và kinh tế không đủ để xây dựng một nền hòa bình lâu dài. Hòa bình phải được đặt nền trên giáo dục, khoa học, văn hóa và sự hợp tác giữa các quốc gia. Sau những thảm họa của hai cuộc thế chiến, Hiến chương UNESCO đã khẳng định: “Vì chiến tranh bắt đầu trong tâm trí con người, nên chính trong tâm trí con người phải xây dựng những thành trì bảo vệ hòa bình”.
Tổng Giám đốc UNESCO Khaled Ahmed El-Enany Ali Ezz đón tiếp Đức Thánh Cha Lêô XIV. (ANSA)
Khi đến Pavillon d’Honneur, Đức Thánh Cha được Tổng Giám đốc UNESCO Khaled Ahmed El-Enany Ali Ezz và Đức ông Roberto Campisi, Quan sát viên Thường trực của Tòa Thánh tại UNESCO, đón tiếp. Sau đó, ngài chào các lãnh đạo cấp cao của tổ chức và có cuộc gặp song phương với Tổng Giám đốc tại Thư viện UNESCO.
Đức Thánh Cha ký Sổ Vàng, trao đổi quà tặng, chào các thành viên Phái bộ Thường trực Tòa Thánh, rồi đến Quảng trường Khoan dung, nơi ngài tưới một cây ôliu và chụp ảnh lưu niệm. Tiếp đến, cùng với Tổng Giám đốc UNESCO, ngài tiến đến Hội trường I để tham dự cuộc gặp.
Trong lời chào mừng, Tổng Giám đốc UNESCO gọi chuyến thăm của Đức Thánh Cha là “một thời khắc thực sự mang tính lịch sử”, đánh dấu lần đầu tiên một Giáo hoàng đến UNESCO kể từ năm 1980. Ông cũng nhấn mạnh đây là tổ chức quốc tế đầu tiên bên ngoài Roma được Đức Lêô XIV viếng thăm.
Thay mặt 194 quốc gia thành viên và gần 5.000 nhân viên, Tổng Giám đốc cho biết sự hiện diện của Đức Thánh Cha là sự ghi nhận đối với 80 năm UNESCO phục vụ hòa bình, đồng thời tái khẳng định mối quan hệ lâu dài với Tòa Thánh, Quan sát viên Thường trực từ năm 1952. Ông cũng nhắc đến Thông điệp Magnifica Humanitas và lời mời gọi bảo vệ phẩm giá con người trong một thời đại đang trải qua những biến đổi sâu sắc.
Trong diễn văn đáp từ, Đức Thánh Cha nói:
Thưa Ngài Tổng Giám đốc, Ngài Chủ tịch Đại hội đồng, Ngài Chủ tịch Hội đồng Chấp hành, và thưa quý vị,
Tôi vui mừng được hiện diện hôm nay giữa đại hội các quốc gia này, nơi các ngôn ngữ và các nền văn hóa gặp gỡ nhau để cùng hợp tác trong một dự án liên quan đến toàn thể gia đình nhân loại: “Góp phần duy trì hòa bình và an ninh bằng cách tăng cường sự hợp tác giữa các quốc gia, thông qua giáo dục, khoa học và văn hóa, nhằm bảo đảm sự tôn trọng phổ quát đối với công lý, pháp luật, các quyền con người và các quyền tự do căn bản” (Hiến chương UNESCO, điều 1, khoản 1). Quả thật, cùng nhau xây dựng một thế giới công bằng chính là nền tảng của sự hợp tác quốc tế. Những kinh nghiệm, khả năng và năng lực của chúng ta đều hướng đến việc kiến tạo một không gian đón nhận mọi người và mang lại hoa trái cho mỗi người, để mọi dân tộc có thể phát triển trong hòa bình.
Đức Thánh Cha Lêô XIV phát biểu tại Trụ sở UNESCO. (@Vatican Media)
Với tư cách là chứng nhân của hòa bình, tôi thân ái chào quý vị, các Đại diện của các Quốc gia thành viên và các Quan sát viên, các Tổ chức quốc tế, giới học thuật và xã hội dân sự. Tôi cảm ơn ông Khaled El-Enany, Tổng Giám đốc của Tổ chức này, vì lời mời nồng hậu và những lời ông vừa dành cho chúng tôi. Với tư cách là mục tử, tôi chuyển đến quý vị lời của Giáo hội, một Giáo hội không ngừng trở thành “sứ điệp và cuộc đối thoại” hướng đến mọi dân tộc, mọi người nam nữ thiện chí (x. PHAOLÔ VI, Thông điệp Ecclesiam suam, số 67).
Dự án cùng nhau xây dựng một thế giới công bằng tương hợp với một sứ mạng mà qua dòng lịch sử, chúng ta đã học cách cùng nhau chia sẻ. Về phương diện này, UNESCO vừa là một mục tiêu vừa là một phương thế để ngày nay tiếp tục thực hiện nhiệm vụ ấy với sự dấn thân mạnh mẽ hơn, trong nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau của chúng ta. Năm 2027, chúng ta sẽ kỷ niệm 75 năm sự hiện diện của Tòa Thánh tại UNESCO: một sự hiện diện bắt nguồn từ xác tín rằng tương lai trước hết phụ thuộc vào việc tôn trọng và thăng tiến phẩm giá bất khả xâm phạm của mỗi con người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa. Vì thế, chúng tôi coi Tổ chức này là một đối tác đối thoại ưu tiên trong việc phục vụ công ích, vốn là “hình thức xã hội của phẩm giá” mà tất cả chúng ta cùng chia sẻ từ lúc khởi đầu một cách bình đẳng (x. Thông điệp Magnifica Humanitas, số 59). Từ năm 1952, Phái bộ Quan sát viên Thường trực của Tòa Thánh, trong viễn tượng này, phân định và đồng hành với các sáng kiến của UNESCO, đóng góp vào cuộc đối thoại giữa các quốc gia, nhằm hỗ trợ một sự phát triển con người đích thực, một sự phát triển chỉ thực sự là như thế khi hướng đến việc “thăng tiến mọi người và toàn thể con người” (PHAOLÔ VI, Thông điệp Populorum progressio, số 14).
Trụ sở UNESCO tại thủ đô Paris, nước Pháp. (@Vatican Media)
Khi ngỏ lời với đại hội này, vị tiền nhiệm đáng kính của tôi, Thánh Gioan Phaolô II, đã nhắc lại rằng “nhân loại sống nhờ nghệ thuật và lý trí”. Quả thật, bởi vì “con người sống một đời sống thực sự nhân bản nhờ văn hóa”[1], nên từ “văn hóa” chỉ cách thức hiện hữu qua đó con người mang lại ý nghĩa cho tất cả những gì mình làm. Bốn mươi sáu năm sau, khi tái khẳng định trước quý vị cam kết hợp tác của Tòa Thánh, tôi mời gọi quý vị nhìn UNESCO không chỉ như một Tổ chức quốc tế danh tiếng, nhưng còn như một nơi nhân loại suy tư về chính mình, về lịch sử và tương lai của mình. Quả thật, không thể thăng tiến giáo dục, khoa học và văn hóa mà không thăng tiến sự sống của người nam và người nữ, những chủ thể của chính những lĩnh vực ấy.
Trong lĩnh vực giáo dục, Giáo hội Công giáo có một kinh nghiệm rất lâu đời: qua nhiều thế kỷ, các cộng đoàn của Giáo hội đã mở các trường học và đại học, dạy đọc, dạy viết, và hiện diện ngay cả tại những nơi nghèo khó và xa xôi nhất. Với Hiệp ước Giáo dục Toàn cầu, vị tiền nhiệm của tôi, Đức Giáo hoàng Phanxicô, mong muốn đưa kinh nghiệm này vào trong một liên minh giáo dục rộng lớn hơn, mở ra cho sự đóng góp của tất cả mọi người. Nhưng điều tôi muốn chia sẻ với quý vị trước hết không phải là những công trình, mà là xác tín làm nền tảng cho những công trình ấy. Không có nền giáo dục nào là trọn vẹn nếu không đề cập đến vấn đề ý nghĩa. Trong chính bài diễn văn ấy, Thánh Gioan Phaolô II đã nhắc lại: giáo dục là giúp con người “là” nhiều hơn, chứ không chỉ “có” nhiều hơn, đồng thời nhận ra nơi con người chiều kích siêu việt của nhân vị, vốn thuộc về sự viên mãn của chính nhân tính (x. ibid., số 10-11).
Vì thế, trong đại hội này, có một câu hỏi căn bản đáng được đào sâu và đang khẩn thiết đòi hỏi một câu trả lời: Làm người nghĩa là gì? Mọi nền văn hóa đều được chất vấn bởi câu hỏi này, một câu hỏi nằm ở trung tâm của mọi hình thức tri thức, mọi nghệ thuật và mọi tôn giáo. Ngay cả trong thế kỷ XXI, chúng ta cũng không thể mặc nhiên cho rằng mình đã biết con người là ai hay sống như một con người nghĩa là gì. Quả thật, mỗi thế hệ đều được mời gọi đối diện với câu hỏi này, đặc biệt trước những thảm kịch mà đáng tiếc thay, ngày nay vẫn tiếp tục tái diễn.
Chào đón Đức Thánh Cha Lêô XIV tại Trụ sở UNESCO. (@Vatican Media)
Trước hết, con người là một hữu thể được thụ thai và được sinh ra. Vì thế, trước tiên, làm người có nghĩa là làm con. Không ai trong chúng ta được chọn điều đó. Không ai trong chúng ta đã quyết định mình được sinh ra bởi ai, khi nào hay ở đâu. Sự thật hiển nhiên này soi sáng một thực tại không chỉ mang tính sinh học mà còn mang tính luân lý: vì là những người con, tất cả chúng ta đều là anh chị em với nhau. Ngay từ khởi đầu, nhân tính của chúng ta vừa là một ân ban vừa là một thử thách, vừa là một lời hứa vừa là một trách nhiệm. Đối với mỗi con người, việc được sinh ra thiết lập một mối dây nguyên thủy – một sự hiệp thông sự sống có nguồn mạch và môi trường giáo dục đầu tiên nơi gia đình.
Thứ hai, tất cả chúng ta đều sinh ra trần trụi và trong tình trạng cần được trợ giúp. Từ lúc chào đời, chúng ta đã nghèo khó, cần bánh ăn và lời nói, cần sự chăm sóc và tình thương – nghĩa là cần tất cả những gì nuôi dưỡng cả thân xác lẫn tinh thần. Chúng ta biết rõ điều này, nhưng khi trưởng thành, chúng ta có nguy cơ quên mất. Chính những người túng thiếu phải gánh chịu những hậu quả nghiêm trọng nhất của sự lãng quên ấy, mỗi khi nhân tính của họ bị phản bội hay gạt bỏ, bị bóc lột hay lừa dối. Quên đi hoàn cảnh lúc mình được sinh ra sẽ làm lu mờ chính ý niệm về sự sống con người, bởi nó tách sự sống khỏi lịch sử chung của tất cả chúng ta. Khi ấy, sự sống không còn được hiểu như một ân ban, nhưng như một món hàng. Nó không còn được nhìn như một lời mời gọi chăm sóc và có trách nhiệm, nhưng như một sản phẩm để khai thác. Quả thật, sự thay thế bi thảm này nhắc chúng ta rằng làm người có nghĩa là tự bản tính được tự do. Bởi tất cả chúng ta đều từng là trẻ thơ, nên tự do của chúng ta bắt đầu bằng việc đáp lại sự tự do của người đầu tiên hướng đến chúng ta – bằng những cử chỉ yêu thương hay khước từ, bằng sự đón nhận trìu mến hay bằng sự bỏ mặc và tàn nhẫn.
Thứ ba, gìn giữ ký ức sống động về nhân tính chung của chúng ta có nghĩa là nhận ra sự cao cả của nó – nghĩa là tiềm năng vô cùng lớn lao của con người – dù tiềm năng ấy bị suy giảm bởi nhiều hình thức sự dữ và bất công. Những người hoạt động trong các lĩnh vực giáo dục, khoa học và văn hóa càng được mời gọi chăm sóc từng con người, để vẻ đẹp của tự do có thể tỏa sáng. Vẻ đẹp ấy có một tên gọi: công lý. Tự do thực sự đẹp khi hướng đến điều thiện và sự thật; nó bị biến dạng khi sa vào sự tùy tiện, bạo lực hay khát vọng quyền lực. Vì thế, làm người hàm chứa một trách nhiệm trước lịch sử. Con người là hữu thể lớn lên, học hỏi và lao động bằng cả đôi tay lẫn trí óc. Qua lao động ấy, chúng ta có thể vun trồng trái đất hoặc làm nó biến dạng, có thể sáng tạo các tác phẩm nghệ thuật hoặc phá hủy chúng. Trong thời điểm đặc biệt này, chúng ta phải nhìn nhận rằng điều khủng khiếp nhất trong những “công trình của con người” chính là chiến tranh, bởi khi ấy chính khoa học cũng bị đặt vào việc phục vụ một ý chí phi nhân nhằm hủy diệt và giết chóc.
Đức Thánh Cha Lêô XIV tưới cây ôliu biểu tượng cho thông điệp hoà bình tại Trụ sở UNESCO. (@Vatican Media)
Về điều này, Hiến chương UNESCO mở đầu bằng những lời đến nay vẫn mang tính thời sự đáng kinh ngạc: “Vì chiến tranh bắt đầu trong tâm trí con người, nên chính trong tâm trí con người phải xây dựng những thành trì bảo vệ hòa bình” (Hiến chương UNESCO, Lời mở đầu, 1945). Những lời này được viết sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, thảm kịch tàn khốc nhất của thế kỷ trước. Nhân loại khi ấy đã nhận ra rằng tiến bộ khoa học, nếu tách khỏi sự khôn ngoan, có thể trở thành vũ khí hủy diệt; văn hóa, nếu bị đặt dưới sự chi phối của ý thức hệ, có thể thoái hóa thành sự giả dối và tuyên truyền; và giáo dục, nếu từ bỏ sự thật, có thể trở thành công cụ thao túng lương tâm. Các quốc gia sáng lập UNESCO hiểu rằng các hiệp ước là cần thiết, nhưng tự chúng chưa đủ. Chúng cần được nâng đỡ bởi một nền văn hóa hòa bình và một cam kết chung cho hòa bình. Hòa bình không thể được xây dựng chỉ bằng các hiệp ước, cũng không chỉ bằng những thỏa hiệp giữa các lực lượng đối nghịch. Hòa bình đích thực khi phát sinh từ nhân đức công lý chứ không chỉ từ một khế ước, và từ một ý chí ngay thẳng chứ không phải từ sự cân bằng mong manh giữa các lợi ích. Quả thật, chỉ một ý chí ngay thẳng mới có thể nhận ra nơi người khác một người anh chị em, một con người như chính mình.
Tám mươi năm sau, những lời trong Hiến chương sáng lập của quý vị vẫn không hề mất đi sức mạnh. Tuy nhiên, chúng ta cũng thấy nguyên tắc chung ấy đang bị đe dọa sâu sắc bởi những hình thức man rợ nuôi dưỡng sự cạnh tranh và xung đột. Trong số những thách đố mà thế giới khoa học và giáo dục ngày nay đang đối diện, tôi muốn đặc biệt lưu ý đến những thách đố phát sinh từ lĩnh vực công nghệ rộng lớn. Những nỗ lực của chúng ta trong lĩnh vực này cần bảo đảm rằng các công nghệ mới phải tiếp tục phục vụ con người, thay vì trở thành một công cụ khác của sự thống trị và bất công.
Qua nhiều thế kỷ, nhiều công việc trước kia do con người thực hiện đã được giao cho máy móc, với những khả năng và ứng dụng không ngừng được mở rộng. Gần đây hơn, một số hệ thống nhân tạo thậm chí còn được gọi bằng tên của khả năng tư duy nơi con người: trí thông minh. Tuy nhiên, đồng thời, những tư tưởng và các mối tương quan của chúng ta có nguy cơ bị nghèo nàn bởi một tiến trình phi nhân hóa. Nghịch lý ngày càng trở nên rõ ràng: trong khi “trí thông minh” được gán cho các hệ thống điện toán, chúng ta lại gặp khó khăn trong việc nhìn nhận phẩm giá bất khả xâm phạm của con người, khi sự sống của họ bị đánh giá theo tiêu chí hiệu quả và, một khi bị coi là không còn khả năng sản xuất, họ bị loại bỏ và gạt ra bên lề.
Thực tại đau đớn này mời gọi chúng ta suy tư cả về sự mong manh của bản tính con người lẫn phẩm giá vô cùng lớn lao của mỗi người – một phẩm giá không hề suy giảm ngay cả trong những hoàn cảnh dễ bị tổn thương nhất, kể cả khi đối diện với cái chết. Con người chắc chắn là một hữu thể được sinh ra, nhưng cũng là một hữu thể phải chết. Phẩm giá của chúng ta không bị hủy hoại bởi bệnh tật hay đau khổ, cũng không phụ thuộc vào khả năng của chúng ta. Trái lại, phẩm giá ấy đòi hỏi sự chăm sóc đầy yêu thương trong mọi giai đoạn của cuộc đời.
Đức Thánh Cha thăm Trụ sở UNESCO. (@Vatican Media)
Đối với đức tin Kitô giáo, mầu nhiệm con người tìm thấy ánh sáng trọn vẹn nhất nơi Đức Kitô, Đấng “trong chính việc mặc khải mầu nhiệm Chúa Cha và tình yêu của Người, đã mặc khải đầy đủ nhân tính cho chính con người và cho họ thấy ơn gọi cao cả của mình” (Công đồng chung Vaticanô II, Hiến chế mục vụ Gaudium et Spes, số 22). Trong ánh sáng của Đức Kitô, mỗi người xuất hiện trước chúng ta như một thụ tạo được Thiên Chúa muốn có và yêu thương. Ánh sáng ấy cũng giúp chúng ta hiểu sâu xa hơn ý nghĩa của kinh nghiệm mà nhân loại cùng chia sẻ.
Thưa quý vị, với tư cách là những người nam nữ của khoa học, quý vị được mời gọi không ngừng cộng tác nhân danh lịch sử chung của chúng ta, để từ sự đa dạng của các quan điểm có thể hình thành một sự hội tụ trong tầm nhìn, và từ sự hội tụ ấy nảy sinh sự hài hòa trong hành động. Sự hài hòa ấy được diễn tả trong hoạt động của UNESCO khi tổ chức này tạo nên một tiếng nói giao hưởng cho những khát vọng cao quý nhất hướng đến thiện ích và sự chăm sóc nhân loại. Nơi nào có sự hài hòa, nơi đó những tiếng nói khác nhau tìm được sự đồng thuận, và các quốc gia mà quý vị đại diện cũng được quy tụ trong sự hòa hợp.
Về điều này, tôi muốn nhắc đến hai hình ảnh trong Kinh Thánh, kho tàng văn hóa lớn lao của nhân loại. Đó là tháp Babel và quảng trường ngày lễ Ngũ Tuần. Tôi đề nghị hai hình ảnh này như những cách diễn tả sự hiệp nhất của gia đình nhân loại, một gia đình mà ngay cả hôm nay vẫn không ngừng được mời gọi phân định hướng đi đúng đắn và ý nghĩa của lịch sử mà mình đang sống. Hai trình thuật Kinh Thánh này trình bày hai cách thức sống trong xã hội, mời gọi chúng ta suy tư về hoàn cảnh của thời đại mình.
Tháp Babel tượng trưng cho một sự thống nhất được áp đặt bằng sự thống trị (x. St 11,4). Đồng thời, công trình này cho thấy quyền lực càng tìm cách áp bức thì càng tự làm suy yếu mình, để lộ bộ mặt phi nhân. Chúng ta thấy điều đó nơi những đau khổ và bất công do chế độ chuyên chế gây ra, cũng như trong những hình thức khai thác làm tổn hại cả xã hội lẫn môi trường. Như lịch sử dạy chúng ta, nhiều đế quốc từng say sưa với quyền lực của mình, trước khi bị chính quyền lực ấy nuốt chửng và sụp đổ như một tòa tháp. Kết quả của sự kiêu ngạo ấy, sau khi được đề cao rồi bị hạ xuống, chính là sự phân tán. Tham vọng tự đặt mình ngang hàng với Thiên Chúa và bắt các dân tộc phải mang chung một ách dẫn đến sự hỗn loạn ngôn ngữ và tình trạng không còn hiểu nhau. Thay vì vươn tới trời cao như nó từng tham vọng, tháp Babel đã sụp đổ, để lại hai hậu quả tiêu cực. Vì sự thống nhất mà nó áp đặt là cưỡng bức, nên sự đa dạng xuất hiện sau khi nó sụp đổ lại biến thành nguồn xung đột. Ngày nay, cám dỗ Babel tái xuất hiện trong một tiến trình toàn cầu hóa thiếu tình huynh đệ, trong những hình thức thực dân mới đầy tham lam, trong những áp đặt ý thức hệ và trong tất cả những “tiếp xúc mà không có liên kết”, vốn giản lược đời sống con người thành hoạt động thương mại (x. Ủy ban Thần học Quốc tế, Quo Vadis, Humanitas?, 42). Chính khoa học, khi bị giản lược thành một kỹ thuật quyền lực, không còn phục vụ việc nâng cao con người, nhưng có nguy cơ làm suy thoái những thành quả của lao công con người.
Đức Thánh Cha thăm Trụ sở UNESCO. (@Vatican Media)
Ngày nay, đặc biệt, chúng ta có những phương tiện giúp kết nối con người và các châu lục ngay lập tức; thế nhưng đồng thời, chúng ta lại chứng kiến những hình thức cô lập mới, sự nghèo khó vật chất và tinh thần, cùng tình trạng bị bỏ rơi. Truyền thông trở nên nhanh hơn rất nhiều, nhưng không nhất thiết trở nên chân thật hơn. Thông tin rất phong phú, nhưng thông tin không đồng nghĩa với sự khôn ngoan. Nếu thiếu một nền tảng đạo đức chung, vô số kênh truyền thông có nguy cơ nhân lên những thông tin sai lệch và làm lan truyền những lời nói rỗng tuếch, qua đó cản trở đối thoại thay vì thúc đẩy nó.
Trí tuệ nhân tạo khuếch đại vấn đề này. Mặc dù các hệ thống ấy có thể liên kết dữ liệu, chúng không thể trả lời những câu hỏi liên quan đến ý nghĩa của đời sống con người, vốn bắt nguồn từ kinh nghiệm sống. Thế nhưng con người không thể sống mà không có ý nghĩa. Ý nghĩa là dưỡng khí của tâm trí. Vì thế, những thách đố của truyền thông, vốn luôn đồng thời là những thách đố của giáo dục, khiến việc tìm kiếm sự thật trở thành một vấn đề của công bằng xã hội và công bằng lịch sử. Do đó, giáo dục trong lĩnh vực này là điều thiết yếu, và tôi hoan nghênh sáng kiến của UNESCO thông qua chương trình Giáo dục Truyền thông và Thông tin (MIL), nhằm thúc đẩy việc sử dụng có trách nhiệm các phương tiện truyền thông và công cụ kỹ thuật số.
Quả thật, nếu không có sự thật, ngôn ngữ sẽ bị đặt dưới logic của bạo lực và ý muốn tùy tiện của kẻ có quyền. Khi ấy, người khác bị loại trừ nhân danh lợi nhuận, và những người vô tội bị giết hại nhân danh tự do. Thay vì tôn trọng luật pháp, những người nắm quyền viện dẫn luật khi nó phục vụ lợi ích của họ và phớt lờ luật khi nó giới hạn họ, đối xử ngay cả với công lý như một thứ hàng hóa có thể mua bán. Nếu nhận ra rằng sự tha hóa của luật pháp bắt đầu từ sự tha hóa của tâm hồn, chúng ta có thể hiểu rằng mọi ngành khoa học đều có nguy cơ đánh mất ý nghĩa đích thực của mình khi được theo đuổi mà không có đạo đức, và do đó không còn phục vụ và phản ánh phẩm giá con người.
Về phương diện này, tôi khuyến khích toàn thể cộng đồng quốc tế đặc biệt quan tâm đến việc bảo vệ trẻ em và người trẻ. Trong thời đại kỹ thuật số, tình trạng dễ bị tổn thương của họ không bao giờ được trở thành cơ hội để khai thác. Ước gì các công nghệ này hỗ trợ sự phát triển, giáo dục và các mối tương quan của họ, bảo vệ tự do suy nghĩ và phân định của họ, đồng thời luôn phục vụ phẩm giá con người.
Đức Thánh Cha Lêô XIV thăm Trụ sở UNESCO. (@Vatican Media)
Sự tha hóa của văn hóa mà chúng ta đang đề cập tìm thấy con đường cứu chữa nơi quảng trường ngày lễ Ngũ Tuần. Ở đó, một sứ điệp hòa bình được những người thuộc mọi dân tộc đón nhận như Tin Mừng. Sứ điệp ấy loan báo sự phục sinh của Chúa Giêsu, nghĩa là chiến thắng của sự sống trên sự chết và ơn cứu độ mang lại hy vọng cho thế giới. Trong ngày lễ Ngũ Tuần, quảng trường trở thành nơi cử hành nền hòa bình chữa lành mọi xúc phạm đến con người. Mỗi người hiện diện đều nghe sứ điệp “bằng tiếng mẹ đẻ của mình” (x. Cv 2,8). Hiệp thông hoàn toàn không xóa bỏ sự đa dạng. Trái lại, hiệp thông giúp sự đa dạng nở rộ trong sự hài hòa của những tiếng nói và khuôn mặt. Trong lời loan báo hòa bình, sự phong phú của các nền văn hóa trở thành phương tiện chuyển tải một chân lý phổ quát. Như thế, giáo huấn Kinh Thánh chỉ cho chúng ta con đường đạt tới điều tất cả đều tìm kiếm: “sự hiệp nhất không xóa bỏ những khác biệt, nhưng trân trọng lịch sử riêng của mỗi người cũng như nền văn hóa xã hội và tôn giáo của mỗi dân tộc” (Bài giảng trong Thánh lễ khai mạc sứ vụ Giáo hoàng, ngày 18 tháng 5 năm 2025). Không phải sự thống trị của Babel, nhưng chính bình an của lễ Ngũ Tuần làm cho sự hiệp thông giữa mọi dân tộc trở thành điều có thể. Vì thế, mỗi nền văn hóa đạt đến sự khôn ngoan cao nhất của mình khi tìm kiếm hòa bình và thiện ích của mọi người, qua đó làm chứng cho ý nghĩa đích thực của nhân tính.
Những người dấn thân trong lĩnh vực giáo dục biết rằng chỉ có sự thật mới giải thoát chúng ta. Những người giảng dạy và nghiên cứu biết rằng sai lầm khiến chúng ta trở thành nô lệ của sự ngu dốt và mê tín. Mỗi khi gặp trở ngại trong sứ mạng, chúng ta hãy nhớ rằng chỉ có một trái đất dành cho tất cả và một bản tính nhân loại chung. Không thể hiểu con người bằng cách tách rời những gì vốn thuộc về nhau: thân xác và linh hồn, đời sống cá nhân và các mối tương quan, tương quan với người khác và với môi trường. Tất cả đều tạo thành sự thống nhất của cuộc hiện hữu. Vì thế, vun trồng trái đất cũng có nghĩa là vun trồng nhân tính của những người cư ngụ trên đó. Giáo dục và khoa học được mời gọi thực hiện nhiệm vụ này. Quả thật, không phải ngẫu nhiên mà mọi nền văn hóa, theo chính nguyên nghĩa của từ này, đều là một hành vi vun trồng. Vì thế, tôi nhắc lại lời kêu gọi của các vị tiền nhiệm về việc cùng nhau chăm sóc con người và công trình tạo dựng: Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI nói đến sự cần thiết của một nền sinh thái con người, trong khi Đức Giáo hoàng Phanxicô phát triển viễn tượng sinh thái toàn diện (x. ĐGH Bênêđictô XVI, Diễn văn tại Quốc hội Liên bang Đức, ngày 22 tháng 9 năm 2011; ĐGH Phanxicô, Thông điệp Laudato si’, số 137-162).
Tiêu chuẩn để đánh giá sự dấn thân của chúng ta chính là việc chăm sóc những người bé nhỏ và nghèo khó nhất: các trẻ em trong lòng mẹ và tại những nơi đang diễn ra chiến tranh, những người khuyết tật thể lý và trí tuệ, người cao tuổi, người di dân và tị nạn, cùng tất cả những ai bị loại trừ một cách ngạo mạn vì bị coi là không còn khả năng sản xuất. Chính họ là phép thử đích thực đối với những tuyên bố của chúng ta về việc tôn trọng phẩm giá con người; và việc bảo vệ, thăng tiến họ cũng mở rộng đến cả công trình tạo dựng. Đối nghịch với điều này là ý muốn khai thác và cướp bóc, tìm cách lấy càng nhiều càng tốt từ mọi sinh vật, tiêu thụ mà không bảo vệ, phá hủy mà không vun trồng. Vì thế, cuộc khủng hoảng sinh thái hiện nay là một cuộc khủng hoảng nhân học; hơn nữa, Giáo hội xác tín rằng mỗi nền văn hóa đều mang trong mình một sự khôn ngoan được trưởng thành trong một hệ sinh thái của các dân tộc. Môi trường sống của con người chính là xã hội – không đơn thuần là một môi trường vật lý như sa mạc hay đại dương đối với các loài vật, nhưng là một môi trường luân lý và tương quan. Nơi nào hòa bình xã hội ngự trị, nơi đó các dân tộc phát triển trong công lý.
Đức Thánh Cha Lêô XIV thăm Trụ sở UNESCO. (@Vatican Media)
Chính ở đây UNESCO tìm thấy sự tổng hợp của những sứ mạng cao quý về giáo dục và khoa học của mình: trong công việc kiên trì xây dựng hòa bình. Trước vô số tình trạng khẩn cấp phức tạp của thời đại chúng ta, thế giới nhìn các tổ chức quốc tế với những tâm trạng trái ngược. Một mặt, các tổ chức này được mời gọi đối diện với những thách đố mà không một quốc gia nào có thể một mình giải quyết. Mặt khác, chính các tổ chức ấy đang trải qua một cuộc khủng hoảng về hiệu quả, đặc biệt khi đối thoại bị xem như một trở ngại cho hành động thay vì một nguồn lực cho hòa bình; như một hình thức giả hình thay vì một cơ hội để cùng nhau tìm kiếm điều thiện. Trước những lệch lạc ấy, cần cổ võ một nhân đức vừa hiếm hoi vừa được mong đợi: lòng tín nhiệm; tín nhiệm rằng những khác biệt không nhất thiết là một mối đe dọa; tín nhiệm rằng đối thoại chân thành có thể làm phát sinh một điều thiện lớn lao hơn điều mà mỗi bên có thể đạt được một mình. Tòa Thánh mong muốn khơi dậy lòng tín nhiệm này nơi UNESCO cũng như nơi các tổ chức quốc tế khác, với ý thức rằng mỗi dân tộc đều sở hữu một sự phong phú để chia sẻ trong việc tìm kiếm sự tiến bộ đích thực mà chỉ hòa bình mới có thể bảo đảm. Đây không phải là cổ võ một thái độ lạc quan ngây thơ, không nhìn thấy những khó khăn, nhưng là kiên trì trong niềm hy vọng rằng điều thiện luôn có thể thực hiện được. Mỗi trẻ em chào đời đều mang đến hy vọng. Mỗi người nam và người nữ cống hiến đời mình cho việc tìm kiếm sự thật đều thực hiện một hành vi của hy vọng. Vì thế, ước gì UNESCO làm chứng cho niềm hy vọng này bằng cách thúc đẩy sự hiểu biết giữa các quốc gia, qua cuộc đối thoại giữa các nền văn hóa của họ. Quả thật, chúng ta tin rằng giáo dục là phương thế giúp vượt qua những nỗi sợ hãi lẫn nhau và khoa học có thể phục vụ sự sống của mỗi con người, bằng cách gieo hôm nay những hạt giống cho một mùa gặt tốt đẹp trong tương lai. Lòng tín nhiệm ấy nuôi dưỡng niềm hy vọng của chúng ta trong đức ái, nghĩa là trong việc phục vụ thiện ích của tha nhân: khi tất cả chúng ta nhất quán dấn thân cho nhân tính tuyệt đẹp của mình, hòa bình cuối cùng sẽ có thể nở hoa.
Khi chúng ta cộng tác vào công trình này, các truyền thống tôn giáo đóng một vai trò cần thiết và không thể thay thế về mặt văn hóa, và các tôn giáo diễn tả những vấn nạn của chúng ta trước nguồn gốc và cùng đích của sự sống, đồng thời khai triển ý nghĩa đầu tiên và tối hậu của cuộc hiện hữu, vốn được phản ánh trong những lựa chọn hằng ngày. Quả thật, khi những người nam nữ thiện chí hướng hành động của mình về Thiên Chúa, sự đa dạng của các nền văn hóa không bị phân tán trong sự hỗn loạn của Babel. Trái lại, nhân loại gặp lại nhau trong một cuộc tìm kiếm chung về ý nghĩa và hướng tới một vận mệnh không phải là cái chết. Chúng ta không tiến về hư vô. Vì thế, trong tương quan với Thiên Chúa, tâm hồn con người càng cảm nhận rõ hơn lời mời gọi vun trồng hòa bình qua một liên minh giữa các dân tộc, những dân tộc nhận ra mình là con cái của cùng một Cha và là anh chị em với nhau.
Vì thế, tôi mong rằng cuộc gặp gỡ của chúng ta sẽ củng cố sự dấn thân của mỗi người trong việc không ngừng hoạt động để ý thức thuộc về một gia đình nhân loại duy nhất trở nên sống động hơn, tích cực hơn và công bằng hơn. Về điều này, tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với toàn thể nhân viên UNESCO, những người đang thực hiện sứ mạng cao quý này với năng lực và sự tận tâm: xây dựng hòa bình bằng cách vun trồng mọi ngành khoa học và mọi nghệ thuật của con người.
Tôi gửi những lời này đến tất cả quý vị, đến các dân tộc mà quý vị đại diện, và cách đặc biệt đến những người trẻ. Quả thật, chính các thế hệ mới đang chăm chú nhất quan sát những gì chúng ta thực hiện. Trong khi nâng đỡ khát vọng công lý của họ, với lòng biết ơn và quý trọng, tôi khẩn cầu Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa toàn năng và giàu lòng thương xót tuôn đổ muôn vàn phúc lành trên tất cả quý vị và trên các quốc gia của quý vị. Xin cảm ơn.
Nguồn: vaticannews.va
[1] Discours à l’UNESCO, 2 juin 1980. Cf. Thomas d’Aquin, In Aristotelis Posteriora Analytica, 1.